Vietnam PRP Corp.

Tiếng Việt (Vietnamese)English (United Kingdom)
Unique Database with Historian, Current and Future Data warehouse of Vietnam Power Sector

  

  • Decrease font size
  • Default font size
  • Increase font size
Home Tin tức Tin tức Hợp đồng sai khác
Hợp đồng sai khác

cfd

Tìm hiểu hợp đồng sai khác (CfD)

Giá thị trường về bản chất luôn biến động không ngừng, do đó cơ chế quản lý rủi ro về giá thông qua các công cụ tài chính đóng một phần quan trọng trong giao dịch mua bán điện của các nhà máy điện hay các đơn vị cung cấp điện (thực hiện các hợp đồng song phương). Thông thường, đơn vị cung cấp điện bán lẻ điện cho khách hàng với mức giá cố định nên họ mong muốn có thể ổn định được giá mua điện đầu vào. Điều này có thể thực hiện được thông qua quản lý rủi ro mua điện: cố định giá thanh toán cho lượng điện năng mua từ thị trường. Tương tự, các nhà máy cũng muốn ấn định trước mức giá bán điện trên cơ sở chi phí nhiên liệu và các chi phí khác. Nhà máy có thể làm điều này thông qua các biện pháp quản lý rủi ro giá bán phù hợp.

  • Hợp đồng sai khác (CfD – Contract for Difference), và
  • Hợp đồng mua trước (EFA – Electricity Forward Agreement).

Về cơ bản thì nguyên tắc của hai loại hợp đồng này là giống nhau và đều bao gồm các thông số sau đây:

  • Giá hợp đồng (PS – strike price)
  • Sản lượng (MW hay MWh) và
  • Độ sẵn sàng.

Các hợp đồng này là nhằm tính toán thanh toán cho lượng điện năng “sai khác”, với giá tham chiếu là giá thị trường PPP. Ví dụ, khi PPP > PS, nhà máy (bên bán) sẽ trả cho đơn vị cung cấp điện (bên mua) một khoan thanh toán sai khác như sau:

Cho phép cả bên bán và bên mua quản lý các nghĩa vụ vật lý (ví dụ, chỉ thực hiện giao dịch qua hợp đồng tới mức sản lượng phát hay theo nhu cầu phụ tải, không thực hiện các giao dịch chưa chắc chắn), cơ chế này có có tác dụng ổn định giá thị trường PPP trong tương lai. Nếu PPP tăng cao hơn PS, phần thanh toán tăng thêm từ thị trường sẽ được trả cho bên mua điện dưới dạng thanh toán “sai khác”. Ngược lại, nếu PPP nhỏ hơn PS, bên mua điện sẽ phải trả phần thanh toán sai khác này.

Do sản lượng ký theo hợp đồng dựa trên mức sản lượng dự báo, nên sự sai khác so với sản lượng thực tế là không thế tránh khỏi.

Hợp đồng CfD cho nhà máy hay đơn vị cung cấp điện thường phức tạp hơn, thường nó là các hợp đồng nhiều năm và có chứa nhiều điều khoản (về thông số chi phí nhiên liệu). Các điều khoản về sản lượng và độ sẵn sàng phát cũng được đối chiếu đến nhà máy (hay loại hình nhà máy) cụ thể, hoặc là một biểu đồ phụ tải cụ thể. Hợp đồng CfD cũng được dùng để ổn định doanh thu cho các nhà máy điện độc lập. Một số hợp đồng CfD định mức phí mà bên mua (có thể) phải trả thay cho việc dùng khoản thanh toán sai khác.

Các hạn chế lớn của hợp đồng CfD là khó khăn trong việc giao dịch theo hợp đồng và thiếu sự minh bạch về giá. Hợp đồng CfD thường dựa trên thỏa thuận đàm phán song phương, và trong quá khứ từng được dùng như là một cơ chế trợ giá cho các nhiệt điện dùng than nội địa của Anh. Với sự phát triển của hợp đồng EFA, hợp đồng CfD bán điện của các nhà máy chính đã trở nên đơn giản hơn: trở thành các thỏa thuận mua bán trong năm và không chứa các chỉ số.

Hợp đồng EFA ra đời năm 1993, nhằm mục đích khắc phục các khuyết điểm của hợp đồng CfD và cho phép các Công ty bán lẻ điện vùng có thể mua/bán lượng điện dư thừa so với hợp đồng giữa các công ty này. Điểm quan trọng nhất là các giao dịch được mở rộng hơn dựa trên hệ thống screen-based và được chuẩn hóa. Hợp đồng EFA phân loại các ngày trong tuần thành ngày làm việc và ngày cuối tuần, chia một ngày thành 6 chu kỳ (4 giờ/chu kỳ) và kéo dài trong 1 tháng. Các khối đã chia theo hợp đồng EFA được mua/bán đồng thời nhằm đưa ra một biểu đồ mong muốn.

Tuy nhiên, thị trường với hợp đồng CfD và EFA đều có 2 vấn đề cần phải lưu ý. Một là vấn đề về khả năng thanh toán tài chính; hai là một số nhà máy có khả năng lũng đoạn thị trường. Tại Anh, hai công ty National Power và PowerGen sở hữu 2/3 thị phần giao dịch và được phép mua bán sản lượng biên với một Công ty bán lẻ điện vùng (thông qua hợp đồng) – hay nói cách khác là có thêm thị phần trên thị trường. Chính vì vậy, 2 công ty này thường xuyên định giá thị trường (thông qua việc điều chỉnh vận hành các tổ máy biên), và đây được xem là biểu hiện của sự lũng đoạn thị trường.

Mục đích sử dụng hợp đồng CfD là nhằm quản lý rủi ro về giá, theo đó:

  • Nhà máy chạy nền sẽ muốn ký hợp đồng CfD với mức sản lượng hợp đồng bằng mức sản lượng trung bình cả năm;
  • Nhà máy phủ đỉnh hoặc chạy lưng sẽ muốn ký hợp đồng CfD với mức sản lượng hợp đồng tính dựa trên sản lượng nhà máy dự kiến phát trong thời các giờ được huy động;
  • Các đơn vị bán buôn/bán lẻ điện có nhu cầu ký các hợp đồng CfD với mức sản lượng hợp đồng đủ để đáp dứng nhu cầu phụ tải dự báo cho từng giờ.

Trong trường hợp các hợp đồng CfD được phân bổ tập trung, phương pháp ký hợp đồng 100% sản lượng như ở trên sẽ phát sinh một số vấn đề:

  • Nếu nhu cầu phụ tải thấp hơn so với dự báo, sẽ xảy ra tình trạng dư thừa do lượng điện bán qua hợp đồng quá lớn, và giá thị trường sẽ bị giảm thấp xuống mức giá sàn – điều này sẽ tạo tín hiệu không tốt cho các nhà đầu tư phát triển nguồn (như đã từng xảy ra tại Anh năm 1991).
  • Nhà máy sẽ chỉ chào giá với mục đích duy nhất là tối ưu doanh thu theo hợp đồng CfD, do vậy cũng có thể làm cho giá thị trường giảm.

Để giải quyết vấn đề trên, tỷ lệ sản lượng theo hợp đồng CfD thường phải nhỏ hơn 100% - theo đó, nhà máy sẽ có chiến lược chào giá cạnh tranh phù hợp để đảm bảo tối ưu phần doanh thu từ thị trường giao ngay (tính theo giá SMP), từ đó tạo ra sức ép cạnh tranh theo mô hình truyền thống: sản lượng và giá.

Tỷ lệ sản lượng hợp đồng CfD chiếm khoảng [90/95%] sản lượng kế hoạch của nhà máy. Ví dụ, một nhà máy chạy nền có công suất 100 MW với công suất sẵn sàng trung bình dự kiến là 80%, ứng với mức công suất trung bình 80 MW. Nếu tỷ lệ hợp đồng là 90% thì sản lượng hợp đồng sẽ bằng 72 MW {100*0.8*0.9}.

Các nhà máy mà theo dự kiến sẽ không được huy động trong cả năm thì sẽ không ký hợp đồng CfD.

Ưu điểm của phương pháp này là tất cả các các nhà máy đều được xét đến khi xác định giá thị trường SMP. Tuy nhiên, giá có thể sẽ cao.

Các nhà máy dự kiến được huy động trong năm tới được xác định qua quy trình tính toán phi công suất CAN. Giá thị trường toàn phần FMP (FMP = SMP + CAN) là cơ sở để xác định giá hợp đồng:

  • Đối với các nhà máy chạy nền: giá hợp đồng bằng giá trị trung bình của FMP – hợp đồng CfD 2 chiều.
  • Đối với các nhà máy chạy lưng: giá hợp đồng bằng giá trị trung bình của FMP tại các giờ nhà máy dự kiến được huy động - hợp đồng CfD 2 chiều. Hợp đồng CfD chỉ có hiệu lực tại các giờ nhà máy dự kiến được huy động.
  • Đối với nhà máy chạy đỉnh: dạng hợp đồng CfD một chiều là phù hợp hơn. Giá hợp đồng bằng với chi phí điện năng của nhà máy. Phí công suất được thanh toán riêng theo từng tháng, Khi vận hành thực tế, các khoản lợi nhuận do giá SMP cao hơn giá điện năng sẽ được hoàn trả cho SB.

Với hợp đồng CfD 1 năm, tính toán thanh toán có thể dựa trên SMP với khoản phí công suất CAN cố định tính cho năm đó.

Đối với các nhà máy mới, hợp đồng CfD nhiều năm, dựa trên giá FMP cho từng năm trong vòng đời kinh tế của nhà máy. Nguyên nhân là do giá trị SMP và CAN cho từng năm có thể chuyển đổi. SMO được xác định dựa trên kế hoạch phát dự kiến trong năm tới và có thể thay đổi giữa các năm. Trong mỗi năm, CAN được tính theo sự sai khác giữa chi phí BNE và SMP, vì vậy giá FMP sẽ ổn định hơn đồng thời phản ánh được những thay đổi về chi phí của BNE do lạm phát gây ra.

Cần lưu ý là cả hai loại hợp đồng (CfD và EFA) đều dựa trên giá thị trường toàn phần PPP được xác định bằng tổng giá biên thị trường SMP và các thành phần chi phí công suất tính theo xác suất cắt tải LOLP. EFA về cơ bản là một dạng hợp đồng CfD được chuẩn hóa cho ngắn hạn và cho thị trường có lượng giao dịch lớn.

Trích báo cáo "Consultancy for the Design of Vietnam Generation Competitive Market - Campbell Carr"

 

 

Ý kiến khách hàng

Cục Điều tiết Điện lực - ERAV

ERAV
"Mô hình tính toán phí truyền tải do PRP xây dựng là hợp lý và dễ sử dụng. Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu xây dựng nên cho Cục cũng đạt yêu cầu đề ra, phần hướng dẫn sử dụng cho cán bộ nhân viên của ERAV được Công ty thực hiện chu đáo."

Thăng Long JSC

TLP "Báo cáo đấu nối do công ty lập có đầy đủ nội dung cần thiết và đã được bảo vệ thành công. Về hệ thống SCADA và hệ thống đo đếm chúng tôi cũng đánh giá là được thiết kế một cách chuyên nghiệp và phù hợp. Chúng tôi rất hài lòng với các kết quả công việc mà PRP làm cho chúng tôi."

 AES Transpower

AES "Báo cáo ban đầu và cả hai báo cáo bổ sung đều được tính toán cẩn thận, chính xác, đầy đủ với những nhận xét sắc bén. Chúng tôi rất mong được tiếp tục hợp tác với PRP trong tương lai."

 PV Nhơn Trạch 2 JSC

PV NT2 "Chúng tôi thấy PRP là công ty tư vấn rất có kinh nghiệm trong việc lập báo cáo nghiên cứu đấu nối của nhà máy điện, chúng tôi đã lựa chọn PRP để thực hiện dự án và công ty đã không làm chúng tôi thất vọng."


mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay159
mod_vvisit_counterHôm qua200
mod_vvisit_counterTuần này520
mod_vvisit_counterTuần trước986
mod_vvisit_counterTháng này2757
mod_vvisit_counterTháng trước4192
mod_vvisit_counterTổng số298819

Online (20 phút trước): 2
Your IP: 18.232.125.29
,
Ngày 19 Tháng 2, 2020

Sponsored Links


JoomlaWatch Stats 1.2.9 by Matej Koval